Lời chào

Xin chào các bạn! Đây là blog tôi lập nhằm sưu tầm, lưu giữ những tư liệu về nghề nghiệp, những vấn đề mà tôi quan tâm trong cuộc sống. Rất hân hạnh được đón tiếp các bạn và mong nhận được những trao đổi, những góp ý xây dựng của các bạn. Trân trọng cảm ơn!

Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA

(TRƯỜNG HỢP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - VIỆT NAM)

Tham luận khoa học tại hội thảo DI SẢN VĂN HÓA, NGHỆ THUẬT ĐÔNG NAM Á TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CHÂU ÂU/ BA LAN, tổ chức tại thành phố Krakow, Ba Lan, từ ngày 29/9 đến 2/10/2011.

TS. Nguyễn Thị Hậu

Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh (trước năm 1976 mang tên Sài Gòn) tọa độ 10º10' – 10°38' Bắc và 106º22' – 106°54' Đông. Có vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không trong nước và còn là một cửa ngõ quốc tế của Việt nam. Nằm ở vùng hạ lưu và là cửa biển của hệ thống sông Ðồng Nai – sông Sài Gòn, địa hình thành phố Hồ Chí Minh là một mạng lưới sông ngòi kênh rạch lớn nhỏ đan xen chằng chịt, những gò đất cao bên cạnh khu vực rừng ngập mặn ven biển (hiện nay là Khu dự trữ sinh quyển thế giới) làm cho môi trường tự nhiên rất đa dạng phong phú.

Vị trí địa lý và tiến trình lịch sử đã tạo nên những đặc trưng văn hóa độc đáo của thành phố Hồ Chí Minh.

1. Lược sử quá trình hình thành và phát triển.

Thành phố Sài Gòn (từ sau năm 1975 là thành phố Hồ Chí Minh) có một hệ thống di tích khảo cổ học niên đại từ 3000-2500 năm cách ngày nay. Tuy số lượng không nhiều nhưng tiêu biểu của quá trình phát triển của thời tiền sử: đây là trung tâm của lưu vực sông Đồng Nai, phát triển một “cảng thị sơ khai” giao lưu thương mại đường biển với quần đảo Đông Nam Á, Trung quốc và Ấn Độ. Từ đó có đóng góp quan trọng vào sự hình thành và thịnh đạt của văn hóa Óc Eo và vương quốc cổ Phù Nam vào những thế kỷ đầu Công nguyên.

Từ đầu thế kỷ XVII, Sài Gòn trở thành trung tâm chính trị – hành chánh (1689), trung tâm chính trị – kinh tế (1790) của thời chúa Nguyễn rồi vương triều Nguyễn (1802).

Nửa sau thế kỷ XIX chính quyền thực dân Pháp đã cải tạo, xây dựng khu vực Bến Nghé – Sài Gòn thành trung tâm của chính quyền thực dân ở Đông dương. Và phát triển Chợ Lớn thành một trung tâm kinh tế lớn.

Từ giữa thế kỷ XX Sài Gòn là trung tâm chính trị - kinh tế – văn hóa của chính quyền miền Nam Việt Nam, một trung tâm quân sự của Mỹ ở Đông Nam Á. Thành phố được mở rộng hơn nhiều và trở thành một đô thị lớn và hiện đại.

Từ sau năm 1975 tại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh quá trình đô thị hóa phát triển mạnh mẽ để phục vụ cho cuộc sống của hơn 7 triệu cư dân thành phố và khỏang 2 triệu người nhập cư.

Trải qua các giai đọan lịch sử Sài Gòn luôn là một trung tâm kinh tế quan trọng có tầm ảnh hưởng đến một khu vực rộng lớn, đồng thời có những đặc trưng văn hóa khác với nhiều thành phố khác ở Việt Nam.

2. Những di sản văn hóa đặc trưng của Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh

2.1 Sài Gòn là đô thị sông nước:

Sông Sài Gòn là giao thông đường thủy quan trọng nhất, cảng Sài Gòn là cửa ngõ thông thương với nước ngoài. Hệ thống kênh rạch dày đặc là những con đường huyết mạch để vận chuyển lúa gạo và các loại nông sản, hàng hóa khác từ đồng bằng sông Cửu Long lên Cảng Sài Gòn để xuất khẩu. Thương cảng Sài Gòn, từ góc độ lịch sử có thể coi là đặc điểm chủ yếu của đô thị Sài Gòn.

- Hệ thống đường sông, kênh rạch ở Sài Gòn phục vụ cho sự phát triển của nghề thủ công làm gốm nổi tiếng là Xóm Lò Gốm” còn lại nhiều dấu tích như kênh Lò gốm, đường Lò Siêu, khu lò lu, bến mảnh sành, cầu lò chén… Từ đầu thế kỷ XX do quá trình đô thị hoá nên vùng gốm Sài Gòn không còn điều kiện để phát triển sản xuất, truyền thống và kỹ thuật sản xuất “gốm Sài Gòn” sau đó phát triển ở vùng gốm Biên Hòa (Đồng Nai), Lái Thiêu (Bình Dương)…

- Hệ thống sông rạch làm nên cảnh quan “trên bến dưới thuyền” của Sài Gòn: những con sông, kênh rạch với những bến sông nổi tiếng sinh họat buôn bán, cảnh quan văn hóa đặc trưng: sông – bến chợ – phố chợ ven sông - làng ven sông – giao thông đường thủy – ghe thuyền - cầu qua sông…

Hiện nay đại lộ Đông Tây được xây dựng đã đáp ứng nhu cầu giao thông và mang lại hiện đại cho thành phố, nhưng trả giá cho việc này là dọc hai bên sông – cũng là dọc theo đại lộ, những dãy nhà phố buôn bán biến mất, những tòa cao ốc đã và đang mọc lên. Vẻ đẹp cổ xưa “trên bến dưới thuyền” sầm uất mà hồi giữa thế kỷ XX vẫn còn được ghi nhận đã không còn nữa.

2.2 Sài Gòn là đô thị của sự giao lưu và hội nhập văn hóa.

Sài Gòn có một hệ thống sông lớn và có cửa biển Cần Giờ nên đây là một cảng thị từ rất sớm, cũng là nơi có sự giao lưu mạnh mẽ với các quốc gia khác qua đường biển. Từ thế kỷ XVII nhiều cư dân từ nơi khác đến khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Sự hình thành đô thị Sài Gòn là quá trình tụ cư và hội nhập văn hóa nhanh chóng của người Việt, người Hoa với những tộc người bản địa. Họ đã duy trì và phát triển những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của mình và xây dựng các ngôi đình, chùa của người Việt; đền, miếu, hội quán của người Hoa; chùa của người Khmer; nhà thờ của người Chăm Hồi giáo, nhà thờ Công giáo, Tin lành… Các kiến trúc tôn giáo xây dựng trong khoảng 300 năm nay thể hiện sự đa dạng và hội tụ văn hóa của nhiều cộng đồng cư dân. So với Hà Nội hay Huế thì di tích ở Sài Gòn không nhiều, niên đại muộn, đặc trưng kiến trúc- trang trí thể hiện sự giao lưu văn hóa đậm nét, cần nghiên cứu từ góc độ bối cảnh lịch sử - văn hóa đặc thù của vùng đất này thì mới đánh giá thỏa đáng.

Ngoài ra còn có nhiều ngôi nhà cổ, một số khu lăng mộ…Do nhu cầu của cuộc sống mà những di tích là đối tượng bị phá hủy nhiều nhất trong quá trình đô thị hóa.

2.3 Sài Gòn là đô thị được quy họach và xây dựng theo kiểu phương Tây:

Di sản văn hóa nổi bật là cảnh quan đô thị kiểu phương Tây: lấy sông Sài Gòn làm chuẩn các đường phố ngang dọc chia đô thị Sài Gòn (vốn trải dài ven sông, kênh rạch) thành những ô vuông, trong đó là các công sở, biệt thự, trường học, bệnh viện và các công trình công cộng khác. Kiến trúc tôn giáo quan trọng là nhà thờ công giáo trở thành trung tâm của một khu vực dân cư, có thể nhận thấy trung tâm thành phố Sài Gòn nằm trong tam giác có 3 đỉnh là 3 nhà thờ cổ: Tân Định – Đức Bà – Huyện Sĩ (khu vực trung tâm). Những công trình kiến trúc dành cho công sở cho đến nay vẫn còn giữa được công năng, cảnh quan khu trung tâm thành phố là những con đường với hàng cây cao vút, những biệt thự mang vẻ đẹp của kiến trúc cổ điển châu Âu nhưng gần gũi và đã trở nên quen thuộc, là một phần không thể thiếu của thành phố, là “dấu ấn Sài Gòn” đối với người đi xa và người đến Sài Gòn.

3. Bảo tồn di sản văn hóa Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh.

Những khó khăn, thách thức

Thách thức lớn nhất đối với TP. Hồ Chí Minh là khẳng định được đặc trưng và bản sắc văn hóa của mình trong quá trình lịch sử và sự phát triển liên tục hướng đến thành phố hiện đại trong tương lai. Tuy nhiên, một thời gian dài vừa qua do trình độ quản lý đô thị chưa tốt, nhận thức không đầy đủ về di sản văn hoá thời thuộc địa, quy hoạch phát triển thành phố chưa mang tầm chiến lược…dẫn đến việc thu hẹp các công viên, tận dụng tất cả khuôn viên của các kiến trúc cổ, việc làm biến dạng thậm chí “giết chết” các kênh rạch, vùng cây xanh, ao hồ, đập bỏ hay thay đổi kiến trúc các công trình cổ… mang lại cái lợi trước mắt cho một nhóm người nhưng đồng thời xóa bỏ linh hồn văn hoá của thành phố.

  • Quá trình đô thị hoá ào ạt làm cho rất nhiều giá trị của đô thị vốn có sẽ mất đi. Áp lực sinh lợi kinh tế tức thời và sự thiếu khôn ngoan tỉnh táo, thiều tầm nhìn xa trong hoạch định chính sách, quy hoạch đô thị tất dẫn tới việc khai thác triệt để đất đai khu vực trung tâm của đô thị cũ. Quá trình đô thị hoá tại các nước đang phát triển như Việt Nam dưới áp lực toàn cầu hoá cả về địa – kinh tế lẫn áp lực của “nghệ thuật kiến trúc hiện đại” làm biến mất bản sắc văn hoá của mỗi đô thị.

  • Sự thay thế của một bộ phân dân cư sau 1975 và sự nhập cư ồ ạt những năm gần đây và tình trạng chuyển đổi sở hữu chung, riêng đối với các công trình này. Tư duy buôn bán nhỏ lẻ làm phát triển xu hướng tận dụng “nhà mặt tiền”, vỉa hè… để buôn bán, làm cho cấu trúc thay đổi xấu, cảnh quanh lộn xộn không có sự văn minh của một đô thị hiện đại.

  • Hệ thống luật pháp, chính sách bảo tồn di sản văn hóa chưa được phổ biến rộng rãi. Việc tuân thủ luật pháp của người dân, của các nhà đầu tư chưa tốt do chỉ nhìn thấy lợi ích kinh tế trước mắt. Cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa chưa đủ năng lực và điều kiện thực thi chức trách. Sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan chưa đồng bộ.

Một số dự án bảo tồn di sản văn hóa đô thị.

  • Tổng điều tra di sản văn hóa thành phố; Danh mục những di sản đã được công nhận, danh sách 180 công trình cần bảo tồn.

  • Phối hợp với Trung tâm dự báo và nghiên cứu đô thị vùng Lyon (Cộng hòa Pháp) – PADDI điều tra nghiên cứu bảo tồn khu vực trung tâm thành phố, phối hợp với một cơ quan tư vấn của Tây Ban Nha điều tra nghiên cứu bảo tồn khu vực Chợ Lớn. Quy hoạch chung toàn thành phố đến năm 2025, quy hoạch đô thị khu trung tâm do công ty Nikken Seikei Nhật Bản thiết kế, quy hoạch khu đô thị mới Thủ Thiêm do công ty tư vấn Pháp thiết kế… đều lưu ý và đặt vấn đề bảo tồn di sản văn hóa lên hàng đầu.

  • Bảo tồn di sản gắn với việc phát huy giá trị di sản qua du lịch văn hóa, đưa cộng đồng tham gia và trực tiếp được lợi từ việc bảo tồn di sản thông qua việc nâng cao kiến thức và sự hiểu biết cho người dân.

Xây dựng chiến lược bảo tồn di sản đô thị:

  • Căn cứ pháp lý: Luật Di sản văn hóa năm 2002 và bổ sung năm 2010, Luật xây dựng, Luật Đô thị và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật. Các quy định về việc xếp hạng, công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố, quốc gia.

  • Vấn đề bảo vệ di sản văn hóa thực chất là chính sách và thực thi chính sách quản lý đô thị. Khi dân cư chưa có đầy đủ ý thức, khi luật pháp và các biện pháp chế tài chưa đủ mạnh thì ý chí của chính quyền đô thị cực kỳ quan trọng. Từ ý chí này sẽ có những quyết sách và giải pháp hữu hiệu để thực thi việc bảo vệ di sản văn hóa, cũng là biện pháp quan trọng để giáo dục ý thức của người dân.

  • Quy hoạch chung: Xác định khu vực di sản văn hóa phải bảo tồn, từ đó có chính sách quy định cụ thể của các ngành liên quan sự phát triển xây dựng mới của khu vực gồm các quận 1, quận 3, quận 5.Từ đó triển khai các dự án khảo sát, nghiên cứu bảo tồn từng khu vực, phối hợp với các tổ chức nước ngoài là khả thi nhất vì tận dụng được kinh nghiệm, phương pháp khoa học, cách tiếp cận mới và qua đó, đào tạo nhân lực cho công tác bảo tồn di sản.

  • Bảo tồn di sản văn hóa vật thể gắn liền di sản văn hóa phi vật thể: lể hội, sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng, lối sống… của cư dân. Xây dựng cho cư dân nếp sống Văn minh đô thị là một yếu tố quan trọng trong việc bảo tồn di sản văn hóa.

  • Phát triển một thành phố hiện đại với những công trình sẽ trở thành di sản văn hóa trong tương lai: quy hoạch xây dựng những công trình có giá trị biểu tượng văn hóa chứ không chỉ thể hiện tiềm lực kinh tế.

4. Kết luận

Mỗi thành phố được hình thành với những đặc điểm riêng, địa thế, môi trường, lịch sử và con người đã tạo nên tính cách của nó. Bởi thế không có thành phố nào giống thành phố nào. Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh cũng vậy. Với lợi thế của vị trí địa lý thuận tiện cho thông thương và giao lưu kinh tế - văn hóa, là một đô thị trẻ, năng động, sáng tạo, TP Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, xây dựng thành phố văn minh hiện đại và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.

Trong bối cảnh của sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và TP Hồ Chí Minh, “phát triển bề vững” không chỉ là mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên, mà chủ yếu là mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và các vấn đề văn hóa – xã hội. Thành phố Hồ Chí Minh có 3000 năm lịch sử, một đô thị hơn 300 tuổi. Là trung tâm kinh tế - văn hóa lớn nhất Việt Nam, hiện nay các di sản văn hóa của thành phố Hồ Chí Minh đang chịu nhiều thách thức trong quá trình phát triển kinh tế và đô thị hóa, Làm thế nào để thành phố vừa phát triển hiện đại vừa bảo tồn được những di sản văn hóa trên mặt đất và di tích khảo cổ học dưới mặt đất? Giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển là vấn đề quan trọng hiện nay của thành phố Hồ Chí Minh và của nhiều đô thị khác ở Đông Nam Á.

Nguồn: http://www.viet-studies.info/NguyenThiHau_BaoTonDiSanVanHoa.htm

Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

Thân phận biệt thự Hà Nội

Biệt thự nhắc tới ở đây là villa thời Pháp thuộc
GS-TS-KTS Hoàng Đạo Kính


Giữa các thể loại kiến trúc, nhà ở thân phận hơn cả. Thân phận bởi trú ngụ nơi đó những kiếp người. Giữa những thể loại nhà ở, biệt thự thân phận hơn cả. Thân phận bởi những biến đổi thời cuộc va đập vào, dữ dội và sâu xa hơn cả. Giữa những biệt thự Huế, Sài Gòn, Đà Lạt và những đô thị khác, biệt thự Hà Nội thân phận hơn cả.

Mỹ miều

Ở Hà Nội, những năm 80 thế kỷ XIX, thực dân xây dựng đồn binh và trại lính tại khu nhượng địa. Nay sót lại vài ba cái - nhà gạch 2 tầng, dưới bỏ trống để tránh ẩm thấp, tầng trên gồm những gian phòng có hiên bao quanh, cốt là dể tránh nắng hắt và mưa táp. Muộn hơn, xuất hiện những villa, thoạt đầu ở phía Nam hồ Hoàn Kiếm. Từ thập niên thứ hai thế kỷ trước, hình thành những đường phố, những ô phố, những xóm và khu biệt thự. Những năm 30 đầu 40, người ta còn tổ chức bình chọn mẫu biệt thự đẹp nhất Hà Nội. Lần cuối villa trong vườn ở góc phố Điện Biên Phủ và Lê Hồng Phong, được công nhận là đẹp nhất.

Biệt thự thường đặt trong khuôn viên chia lô, dọc các con phố có vỉa hè và những rặng cây trồng thẳng hàng và đều đặn, thuộc một chủng loại. Chúng hầu hết là những ngôi nhà gạch 2-3 tầng, to tát so với nhà ở của người bản địa thời đó, song lại khiêm nhường so với biệt thự của người mình thời nay. Tầng sát đất không cao và để trống. Lối lên đường bệ dẫn tới sảnh, phòng salon, phòng ăn, các phòng ngủ, phòng tắm và vệ sinh. Biệt thự nào cũng có mái hiên hoặc ban công. Nhiều khi có cả véranda - không gian 3 phía không có vách, mà chỉ ngăn bằng lan can hoa sắt hoặc con tiện. Lác đác bắt gặp những lan can đúc gang uốn cong hình bụng chửa - đấy là tàn dư của những lan can ban công thời trung cổ châu Âu, tiện cho những tiểu thư váy xòe đứng ngắm phố và ngóng trai. Hãn hữu bắt gặp những cái mézonine - khoảng không gian đặt nhô ra một bên nhà, có mái che và có vách kính bao. Đó là nơi sinh hoạt lưng chừng giữa nơi tiếp khách và nơi ngủ, là thành phần không thể thiếu ở các biệt thự Bắc Âu. Đà Lạt có nhiều villa với mézonine. Thời nay, do thiếu diện tích, đem bít lại. Biệt thự có mézonine như con mắt nhòm ra những sườn đồi thoai thoải, nay trở nên mù lòa.

Người Tây du nhập kiến trúc nhà gạch nhiều tầng, với những bức tường dày xây gạch chịu lực, mát về mùa hạ và ấm về mùa đông. Sàn nhà cấu tạo bằng dầm sắt và vòm cuốn gạch, trước khi xuất hiện bê tông cốt thép vào những năm 30. Cửa sổ lắp kính, bên ngoài thêm cửa chớp. Mái dốc lợp ngói Tây, họa hoằn lợp ngói đá ardoise. Mái thường được khuếch trương, cả về độ lớn và sự biến hoá. Chúng là thành phần đặc sắc của biệt thự Hà Nội. Ngôi nhà mái dốc chóp thẳng đứng lợp ngói ardoise ở giữa phố Quán Thánh, nhìn cứ tưởng như cái bóng chưa tan thời trung cổ Bắc Âu. Còn villa ở góc phố Lê Hồng Phong và Khúc Hạo, có hệ mái ngói y hệt bản hòa tấu kỳ lạ của những cái chóp có độ dốc khác nhau. Hình như trong một lần tu sửa mới đây, ai đó đã “giản tiện hóa” cái sự bị cho là rối rắm ấy. Cách nay chắc đã hai thập niên, nhiều người Hà Nội giàu nhanh cũng gắng dựng lên những cái chóp trên những biệt thự - lâu đài đồ sộ của mình. Xem ra, cái gì cũng có thời của nó. Những mái ngói vươn ra thường tì đỡ vào những hệ con sơn gỗ, trang sức duyên dáng cho những villa Hà Nội. Ở phố Nguyễn Biểu, biệt thự số 17 và 18, chắc thuộc sở hữu của người Việt, có những hệ con sơn đỡ mái nhà và mái hiên, cầu kỳ và tinh tế đến mức ta quên đi cái sự chúng đơn thuần là cấu trúc tỳ đỡ. Còn ở ngã tư Bà Triệu và Nguyễn Du, thỉnh thoảng bị úng ngập của Hà Nội cũ, có ngôi biệt thự một tầng, mái ngói rõ lớn và rõ nặng, che úp lên cái thân thấp lùn của nó. Ấy mà, những con sơn đỡ mái hiên lại diêm dúa đến thế. Nay cụ biệt thự lùn đã bị phá bỏ đến hai phần ba. Dưới mái nhà tàn phế ấy, hình như người họa sĩ không chịu già Ngọc Linh chưa nỡ bỏ đi ...

Cùng với kiến trúc biệt thự, người Tây du nhập kỹ thuật và thiết bị tiện nghi: nước máy, quạt máy, bồn tắm và vòi hoa sen, lavabo cùng vòi rubine, chậu rửa bide, xí bệt v.v.. Nhờ thế mà chu trình sống trong không gian ở khép lại. Dân ta dần dà làm chủ mô hình ăn ở tiện lợi ấy.

Trong khoảng thời gian 50 năm, kiến trúc biệt thự Hà Nội đã kịp phát triển về không gian, loại hình, số lượng, kiểu cách, sự khác biệt giàu và sang, tiến hoá theo các trào lưu quốc tế và, đặc biệt, theo chiều hướng địa phương hóa. Thoạt đầu, người Tây du nhập kiểu biệt thự có phong cách hậu cổ điển vào Sài Gòn và Hà Nội. Một giai đoạn dài hơn, họ du nhập các kiểu dáng biệt thự từ các địa phương của nước Pháp, với những biến hóa cho hợp với đất trời bản địa. Tôi gọi những kiểu cách kiến trúc biệt thự thời kỳ này là nostalgique - hoài hương, vọng quê. Từ cuối những năm 20 và nhất là từ những năm 30, kiến trúc biệt thự phát triển theo hai chiều hướng. Modernisme với việc sử dụng vật liệu bêtông cốt thép, mái bằng và sự giản tiện trang trí. Chiều hướng thứ hai, kết hợp thẩm mỹ Đông - Tây cùng sự khai thác theo chiều sâu những đặc trưng của xứ nhiệt đới nóng - ẩm, lấy đó làm điểm tựa cho một phong cách kiên trúc riêng biệt.

Cùng với thể loại biệt thự trong các khuôn viên phân lô đa phần thuộc sở hữu người Tây, ở Hà Nội sớm định hình dạng biệt thự liền kề, chủ yếu do người Việt thuộc giai tầng trung lưu sở hữu. Các phố Bùi Thị Xuân, Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế, Quán Thánh, Nguyễn Trường Tộ, Hàng Than v.v.. đã từng xây kín bởi những căn biệt thự kiểu ấy. Nhà nghiên cứu đô thị người Pháp Christian Pédelahore de Loddis, người hiểu biết bản chất kiến trúc Hà Nội cực kỳ tinh tế, cho rằng kiểu biệt thự này là sự phát triển tiếp nối mô hình nhà ống ở khu phố cổ.

Biệt thự thời Pháp chẳng những là nét đẹp và nét sang trong quỹ kiến trúc đô thị Hà Nội, chúng còn thôi thúc người mình hôm nay sao chép và biến hóa không biết nhàm chán, làm nảy sinh chủ nghĩa hình thức, khá vô duyên trong công cuộc phát triển nền kiến trúc Việt Nam, lẽ ra phải đuổi bám thời đại. Có lẽ bởi villa thời xưa là nơi sống tiện lợi và thanh thản, đẹp nhã và đẹp bền, sang mà không phô diễn, văn hóa chính là ở sự chừng mực... Học hỏi kiến trúc villa, chính là những tinh hoa ấy.

bắt nguồn từ màu những viên sa thạch, mà người Pháp ưa ốp mặt nhà ở thành thị và thôn quê. Nay ta sơn phủ công sở và nhà ở bằng gam màu cũng vàng, song lại là vàng đậm và gắt. Thời Tây, hễ Hà Nội có dịch thương hàn là người ta cắm những lá cờ hình tam giác màu ấy.

Biến đổi

Từ năm 1954, với villa Hà Nội, thời cuộc đã đưa tới những biến đổi gốc rễ. Những biến đổi liên quan trước hết đến quyền sở hữu. Tiếp theo là về sử dụng. Cả hai đều gây hệ lụy, ngày càng sâu xa.

Những chủ sở hữu cũ hầu hết đã ra đi. Một số ít lưu lại, song đã vào những vai khác. Các biệt thự sang trọng dùng cho các cơ quan ngoại giao. Các biệt thự lớn đem dùng cho các công sở. Một số lượng khá lớn trao cho các gia đình cán bộ cao cấp, có tiêu chuẩn tương ứng cả về ở, ăn lẫn xe cộ. Dòng người từ miền ngược và thôn quê ồ ạt chuyển về thủ đô, tạo ra làn sóng di dân lần thứ nhất - bộ đội, cán bộ, nhân viên và công nhân. Họ được sắp xếp vào ở những căn nhà có diện tích dôi ra do sự “nhũn nhặn” vốn dĩ của chủ nhân - người Hà Nội gốc. Nhà vẫn thiếu, họ được phân chỗ ở, trong các ngôi biệt thự, chưa bao giờ thiết kế cho sự chung sống tập thể, cho những ai chưa từng ở nhà Tây.

Dạng di dân và cư trú tương tự ta có thể thấy ở những thành phố Nga sau năm 1917. Người Nga gọi cộc lốc là “côm-mu-nál-ca”, nhà ở chung, nơi sống chung đụng.

Villa Hà Nội trong những hoàn cảnh lịch sử, nên được nhìn nhận khách quan, khó bề tránh khỏi sự xuống cấp kỹ thuật, biến dạng kiến trúc, sa sút thẩm mỹ. May mắn hơn cả là những biệt thự do các cơ quan ngoại giao nước ngoài sử dụng. Chủ hầu hết là người Tây, họ hiểu biết và có điều kiện duy trì, do đó biệt thự chẳng những không tàn phai, mà lại còn ngời sáng.

Những tòa biệt thự biến thành công sở biến dạng và xuống cấp do chúng chưa hề được thiết kế làm nơi ra vào của đám đông, do bị thờ ơ bởi cái lẽ chúng chẳng phải là của riêng ai. Dạo chiến tranh, cơ quan sơ tán, các hộ nhân viên đổ bộ nhẹ nhàng vào, biến biệt thự công sở thành nơi ở hơn là nơi làm việc, với tất cả những hệ luỵ dai dẳng. Ở tạm mà hóa ra ở lỳ.

Biệt thự dành cho gia đình cán bộ cao cấp có số phận chẳng may mắn hơn là bao. Một thời gian dài, tuy là cao cấp, song họ vẫn nghèo. Con cái lấy vợ gả chồng, mỗi đôi một buồng. Thiếu chỗ, cơi nới và xây quanh hàng rào. Sau này, nhà nước thanh lý theo giá “tượng trưng”, con cháu đem bán nhà mà thực ra là bán đất.

Thân phận hơn cả là những biệt thự bị biến thành nhà tập thể, mỗi gia đình một buồng, buồng tắm cho hộ ít người. Mọi tiện nghi cũ dẹp đi. Trong sân xuất hiện nhà vệ sinh công cộng, bể nước công cộng, nhà tắm công cộng, chuồng lợn, chuồng gà... Nhu cầu sử dụng gia tăng, ai ở tầng một thì bành trướng ra sân, ai ở tầng trên thì bành trướng lên trời. Hết chỗ, thì làm nhà tạm bợ dọc hàng rào. Biệt thự bị xâm thực từ trong ra, từ ngoài vào và từ trên xuống. Chúng trở thành tổ người, biến dạng đến nỗi, ai muốn phục dựng hình hài cũ, phải dụng đến công cụ mổ xẻ kết hợp với tài phán đoán của nhà khảo cổ học.

... Trong xóm Hạ Hồi, nguyên là xóm biệt thự êm đềm, hiện hữu một cái nhà nguyên là biệt thự. Nguyên, bởi nó đã bị nuốt chửng bởi những sáng tạo kiến trúc, phát sinh từ những sự bất đắc dĩ kéo dài hàng chục năm ròng, với vô số những cuộc thập tự chinh, những va chạm và những cuộc họp hòa giải. Trong gian phòng rộng chừng 20m2, ông kỹ sư và bà bác sĩ tuổi quá 70 vẫn ôm ấp những kỷ niệm một đời người. Ông bà ôm hôn nhau lần đầu ở đây, làm lễ thành hôn, trở thành cha mẹ, rồi ông bà nội ngoại cũng ở đây. Tổ ấm - một phòng của họ đầy ắp những vật dụng, chẳng nỡ vứt, toàn là những kỷ niệm một đời con kiến tha lâu đầy tổ. Ngay ở căn phòng phía sau, ngăn cách bởi cửa kính và những cái tủ kê cho khuất mắt, tá túc một gia đình ba thế hệ, già nua và trưởng thành cả rồi, mà chẳng ai ăn nên làm ra. Sự cáu gắt và to tiếng là lẽ bình thường. Chỉ khổ hàng xóm, họ quên đứt đi cái việc điều tiết volume. Trên gác, trong căn phòng nguyên là vệ sinh, nguyên là chỗ ở của một họa sĩ có danh, những bức tranh dở dang và những pho tượng thạch cao chồng chất, đã lâu chưa thấy ai đoái hoài. Trên cái véranda, lợp tôn và bao che bởi tường gạch không trát, vài chục năm nay cư ngụ ông nhạc công kèn đồng. Sáng sáng, ông dóng vào không trung trích đoạn ouvertures của Richard Wagner. Ông nói, cho nó oai phong lẫm liệt... Trong sân, hai dãy nhà tạm bợ tuổi đã 30, ẩm ướt và tăm tối, bà bánh cuốn, ông cháo lòng tiết canh cùng mấy bác từ mãi đâu đâu, chui rúc. Trên tầng hai, trong hai căn buồng nhỏ, vẫn còn đấy con cháu những người chủ cũ. Ai đến chơi, là một dịp họ nhắc về cái sự sở hữu một thời. Và thở dài…

Không nơi nào nhiều biệt thự đẹp, quý và thân phận như Hà Nội của tôi. Trong mắt người này biệt thự Hà Nội là di sản quý hiếm. Trong mắt người kia biệt thự Hà Nội là ứ tồn đô thị. Ai đó lại nhìn thấu giá trị mảnh đất, nơi chúng tọa lạc. Còn những người Hà Nội cũ, chậm chạp và nhũn nhặn, thì biệt thự đã là hoài niệm.

Theo Người Đô Thị số 82


Thứ Năm, 5 tháng 2, 2009

Thư cho một bạn trẻ

Một bài viết của GS. Trần Hữu Dũng (Department of Economics, Wright State University Dayton, OH 45435) có nhiều ý tôi thấy tâm đắc, xin mạn phép giáo sư post lên đây mọi người cùng xem.

Bạn quý mến,
Rất tiếc là tôi chưa được quen thân với bạn, nhưng tôi đã thấy bạn từ bục giảng của tôi, nghe bạn tâm tình qua những bức thư đầy bức xúc về đất nước, về tương lai, và về nhân loại nữa. Qua đó tôi cảm nhận một nghịch lý: bạn vừa có niềm tin ở một tương lại xán lạn hơn, nhưng niềm tin ấy lại bị xao xuyến do cái hiện tại này. Bởi vậy, nhân dịp xuân về, Tết đến, trước hết tôi cầu mong bạn giữ vững niềm tin ấy, và có ít dòng tâm sự.

Trước tiên, một lời tạ lỗi...
Tôi không có “kinh nghiệm” hay lời dặn dò gì để truyền lại cho bạn, bởi vì tôi nghĩ mỗi thế hệ phải tìm một tương lai cho mình. Hơn nữa, dù nghĩ rằng chúng tôi (thế hệ trước các bạn) đã có nhiều cống hiến nhất định cho đất nước (chúng ta không bao giờ quên hàng triệu người thế hệ tôi, và trước nữa, đã hi sinh để mang lại độc lập, thanh bình và thống nhất cho tổ quốc), chúng tôi cũng đã có rất nhiều lỗi lầm, yếu kém... Các bạn đang tiếp nhận một xã hội và một đất nước còn nhiều mảng tối, thậm chí có người sẽ nói là, về vài mặt, chúng có chiều đi xuống. Cụ thể, không ai có thể thành thực mà nói rằng nước ta có một nền giáo dục đáng hãnh diện. Và sông núi, ruộng đồng! Có ai dám nói rằng tất cả đều đẹp đẽ như xưa? Để lại cho các bạn một nền giáo dục như thế, núi sông như thế, có lẽ là “tội” lớn nhất của những người mà trách nhiệm là chuẩn bị cho tương lai các bạn, là bảo quản giang sơn cho các bạn. Những người ấy là chúng.
Tôi phải nhìn nhận rằng trong những năm gần đây, khi cơn lốc “thị trường” bao phủ lên đất nước ta thì (cùng với sự phồn vinh vật chất mà nó đem lại) một bộ phận không nhỏ chúng tôi, nhất là giới được xem là “trí thức”, đã tha hóa. Chúng tôi đã góp phần không nhỏ vào sự “chụp giật” của cuộc sống ngày nay, một số không ít chúng tôi đã co cụm lại, chỉ lo cho gia đình, con cháu mình mà không nghĩ đến các bạn, thái độ đạo đức giả của một số chúng tôi hẳn đã làm nhiều bạn chán ngán, buồn phiền. Một số chúng tôi đã có quyền, có lợi, nhưng chưa làm đầy đủ bổn phận với các bạn. Bởi vậy, trước hết, tôi có lời xin lỗi bạn, thế hệ trẻ. Tôi không dám thay mặt ai để xin lỗi, chỉ xin lỗi cho cá nhân tôi, song tôi nghĩ nhiều người ở thế hệ tôi cũng cùng một tâm trạng.
Nhưng dù hiện tại có thế nào thì tương lai cũng sẽ đến, và tương lai đó sẽ trong tay các bạn. Chẳng những tôi không biết hình tượng vật chất, cơ cấu xã hội hay thể chế kinh tế của tương lai ấy sẽ thế nào, tôi còn ngờ rằng bạn sẽ phải đương đầu với những vấn đề triết lý cực kỳ cơ bản mà tôi chưa thể hình dung. (Ví dụ như với sự tíến bộ của y sinh học, nhất là công nghệ nháy (cloning), đông lạnh thân xác... , tất sẽ có những câu hỏi: “con người là gì?”, “sự sống là gì?”) Mỗi thế hệ phải đi vào một tương lai hoàn toàn mới mà không thế hệ nào trước đó hình dung được. Dù vậy, có vài vấn đề mà tôi nghĩ sẽ là cái trục mà tương lai sẽ xoay quanh. Tôi xin chia sẻ với các bạn.

Toàn cầu hóa và dân tộc tính
Chúng ta đang vào một kỷ nguyên trong đó thế giới thay đổi với một nhịp độ và tầm mức chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại, vùn vụt và sâu rộng. Đó là tiến trình vũ bão của cái gọi là “toàn cầu hóa” (gọi cho gọn, dù tôi không thích cho lắm cụm từ thời thượng này). Tin tức từ khắp nơi trên thế giới đến với mọi người từng phút, từng giờ. Các bạn đi du học, du lịch, gặp gỡ bạn bè, thân nhân, từ các nước về thăm nhà. Toàn cầu hóa đem lại cho bạn vô vàn cơ hội, và bạn nên sẵn sàng (trong tư duy cũng như trong kỹ năng) để tận dụng những cơ hội ấy (một việc cụ thể là trau dồi ngoại ngữ), nhưng nó cũng đặt ra nhiều vấn đề mà tôi mong các bạn cùng suy nghĩ.
Thứ nhất là sự giữ gìn dân tộc tính. Tôi không khẳng định là bạn phải bảo tồn dân tộc tính (cũng xin lưu ý các bạn rằng không phải mọi người đều nhất trí “dân tộc tính” là gì) nhưng tôi muốn chúng ta (bạn lẫn tôi) cùng suy nghĩ có nên “giữ gìn bản sắc dân tộc”, theo nghĩa nào đó, và nếu nên thì nên giữ phần nào, đến mức độ nào. Chọn lựa ấy đòi hỏi những cân nhắc khách quan (không để những sô-vanh phi lý chi phối) song cũng khó thể không chủ quan, bởi vì nó sẽ phản ảnh tình cảm (nào đó) đối với quê hương đất nước, nguồn cội của mình. Vươn ra với thế giới không có nghĩa là chúng ta sẽ xóa nhòa những đặc thù của văn hóa, của ngôn ngữ chúng ta, nhưng với những cơ hội tràn vào từ ngoài là xu thế đồng hóa (tưởng tượng xem: đời sống sẽ dễ dàng biết bao nếu mọi người trên thế giới đều sử dụng... tiếng Anh!). Trong lúc đó, “dân tộc tính” (tạm gọi như vậy) là cái đặc thù. Làm sao để khai thác mọi cơ hội của toàn cầu hóa trong lúc giữ đến một chừng mực nào đó tính đặc thù, cái cá biệt của chúng ta, là một bài toán cho các bạn.
Thứ hai, toàn cầu hóa không có nghĩa là bạn không còn là một công dân của một nước. Nói cách khác, dù bạn có trở thành một “công dân quốc tế” thì bạn cũng vẫn là thành viên của một “địa phương” nào đó. Dù bạn có sang Âu, sang Mỹ sống thì bạn cũng phải đối diện với những vấn đề của cộng đồng, địa phương ấy ... Đó không nhất thiết là một ràng buộc đạo đức nhưng là một yêu cầu xã hội thiết thân (và thiết yếu!). Chọn lựa sự dung hòa, kết hợp những trách nhiệm ấy, chính là đóng góp cụ thể vào sự xích gần nhau giữa người và người, xuyên qua lằn ranh quốc gia và chủng tộc. Nói như nhà xã hội học Ted Ward, bạn sẽ là thành viên của một nền “văn hóa thứ ba”.
Nếu bạn đã có dịp du học, hoặc đang du học, thì bạn thật là may mắn, và một quyết định mà bạn phải đối đầu là có nên về nước hay không. Bạn sẽ ngạc nhiên khi nghe ý kiến tôi: điều đó không thật sự là quan trọng! Tôi tin rằng bạn đủ sáng suốt để quyết định cho chính bạn, bởi nó tùy vào hoàn cảnh, ngành nghề, của mỗi người, và nhất là – trong kỷ nguyên đi đi về về dễ dàng như nay – nó không còn là một quyết định cho suốt đời bạn, không thể thay đổi sau này. Nhưng tôi nghĩ rằng nhu cầu “làm cái gì đó” cho đồng bào mình, nhất là khi đại đa số những người ruột thịt ấy vẫn còn cực kỳ nghèo khổ, là một ước muốn cơ bản nhất của con người. Cũng không nên xem hồi hương là “cống hiến” một chiều của bạn cho đất nước, bởi vì sống giữa lòng dân tộc bạn còn nhận được những tình cảm yêu thương, những ý nghĩa của sự sống, mà bạn không tìm được nơi nào khác.
Nhìn rộng ra, tôi nghĩ rằng khi mà sự tương phản giữa dân tộc và quốc tế mờ nhạt đi (vì sự di chuyển dễ dàng) thì những vấn đề tài nguyên, môi trường – nói cách khác là sự phát triển bền vững – sẽ trở thành sâu sắc, bức xúc hơn. Toàn cầu hóa, nhìn theo góc cạnh này, không có nghĩa là không còn biên giới quốc gia, cụ thể là không còn những tranh chấp giữa các quốc gia, dân tộc. Chỉ là, trong kỷ nguyên mới này những xung khắc cũ sẽ tái hiện qua những phương diện khác: tranh chấp về tài nguyên (nhất là năng lượng) và môi trường. Chúng ta phải tỉnh táo, không thể ngây thơ. Chúng ta chia sẻ những quan tâm của quốc tế, hợp tác để tìm những giải pháp chung cho nhân loại, nhưng cũng không quên những quyền lợi thực tế mà mỗi quốc gia đều phải bảo vệ cho mình, toàn cầu hóa hay không.

“Hai văn hóa” và những giá trị nhân văn
Trên đây tôi đã nói về sự giằng co giữa cái đặc thù của dân tộc và cái chung của thế giới, một sự giằng co mà tiến trình toàn cầu hóa làm nổi bật, thậm chí căng hơn. Nhưng còn một bộ mặt nữa trong đời sống của chúng ta – và sẽ rõ hơn trong tương lai các bạn – đó là sự quan trọng của công nghệ trong sinh hoạt hàng ngày. Bộ mặt này sẽ gây ra một sự giằng co nữa, giữa một nền văn hóa dựa vào công nghệ, vào kinh tế thị trường, và một nền văn hóa nhân văn, đi sâu hơn vào con người, mà tượng hình là văn chương và nghệ thuật.
Gần nửa thế kỷ trước, tác giả C.P. Snow (người Anh) đã báo động về cái mà ông gọi là sự xung khắc của “hai văn hóa”: văn hóa nhân văn và văn hóa công nghệ. Dù cảnh báo này của C.P. Snow đã bị nhiều người cho là một báo động lầm, chí ít cũng là phóng đại (hai tư duy nhân văn và tư duy công nghệ tuy hơi khác nhau nhưng không tương phản như Snow nghĩ), nó là tiền thân của một bức xúc thời thượng: “liệu thị trường có xói mòn đạo đức?”. Cũng vậy, sự tranh chấp giữa hai “văn hóa” (theo cách nói của C.P. Snow): khoa học và nhân văn sẽ làm nổi bật sự xung khắc giữa văn hóa thương mại và văn hóa “ưu tú” (tạm gọi như thế). Nhiệm vụ của bạn sẽ không đơn thuần là bảo tồn những “giá trị cổ truyền”, nhưng là khuếch trương văn hoá nhân văn – một phần đó sẽ là văn hóa dân tộc, nhưng một phần nào nó sẽ đòi hỏi sự sáng tạo của các bạn, cố nhiên là với cái tố chất của dân tộc mình.
Sự hội nhập vào thế giới mang theo nhiều nguy cơ tiềm ẩn, và có vẻ ngày càng trầm trọng. Cuộc sống hối hả, vội vàng, để lại cho chúng ta ngày càng ít thời giờ để suy nghĩ, nhìn lại nội tâm. Đó là thế giới của CNN, của Google, của Wikipedia... Chúng ta có thể tưởng là mình “biết” nhiều, nhưng đó là một thứ kiến thức manh mún, rộng mà không sâu. Thông tin tràn ngập song hầu hết là vô ích. Bạn nên nhín chút thời gian để lắng đọng, ngồi lại một nơi cô tịch để trầm tư.
Với sự tiến bộ của công nghệ thì vai trò của văn chương, nghệ thuật có phần bị lu mờ. Đây là một xu hướng toàn cầu mà nhiều trí thức khắp nơi đã báo động, than phiền. Tôi vẫn biết rằng không phải tất cả các bạn đều “kiếm cơm” trong lãnh vực văn hóa. Các bạn sẽ là nhà kinh doanh, là kỹ sư, là nhà nông... nhưng tôi mong các bạn lưu tâm, và khuyến khích – ít nhất là trong cương vị một người “tiêu dùng” văn hóa – sinh hoạt ấy, bởi vì một xã hội không thể là “phát triển” nếu nó thiếu vắng những sinh hoạt văn hóa sống động, những người thẩm định văn hóa có trình độ, và những người đó là bạn, chính là bạn, dù công việc kiếm cơm hàng ngày của bạn nằm trong lãnh vực nào.

Thay lời kết
Trên đây tôi đã thử đưa một cái nhìn khách quan về những vấn đề mà bạn sẽ đương đầu, và tôi đã hứa sẽ không dám “dạy” bạn điều gì. Thế hệ đi trước bao giờ cũng có nhiều kinh nghiệm nhưng tôi xin để những người khác, sống nhiều hơn và hiểu biết hơn tôi, truyền lại các bạn những kinh nghiệm ấy, và tất nhiên, sẽ có nhiều điều mà chính các bạn, cũng như những thế hệ trước, phải tự trải nghiệm. Tôi chỉ xin chia sẻ với bạn một số linh cảm của tôi về tương lai và gửi gắm vài hoài vọng.
Ở nước ta sự chênh lệch giàu nghèo, những bất công trong xã hội, còn quá nhiều (và có vẻ ngày càng sâu đậm hơn!). Nếu bạn được may mắn là người khá giả ở thành thị thì thỉnh thoảng cũng nên nhìn đến những người mà đời sống vật chất khó khăn hơn mình (tôi không nói là “bất hạnh”, vì chắc chắn là họ không cần thương hại, và cũng chưa chắc là bạn hơn họ về trí thức, về những đức tính khác của con người). Phải nghĩ rằng chỉ vì một tình cờ nào đó của lịch sử mà bạn được như ngày nay. Tôi luôn nghĩ rằng một xã hội tươi đẹp – một xã hội đáng sống – là một xã hội mà mọi người đều có cơ hội tiến thân, một xã hội mà mọi người “tử tế” với nhau... Đối với những bạn đang có đời sống chật vật thì tôi chỉ xin bạn nhẫn nại và cố gắng, và hãy tin rằng không gì là không có thể...
Nhưng, bạn còn trẻ, trước mặt bạn còn là những ngày nồng ấm của yêu đương, hãy dìu nhau đi trong những buổi chiều hồng, hãy dành nhiều thời giờ cho những đứa con còn đang lớn, với người vợ trẻ, ông chồng chưa ... già. Tuổi trẻ không chỉ là chặng đường chuẩn bị cho tương lai. Tuổi trẻ còn là một khoảng hiện thực của chính cuộc đời bạn, với những sướng vui mà bạn sẽ chẳng bao giờ tìm lại được. Bạn hãy tận hưởng tuổi trẻ ấy. Và ngay những lúc bạn ... thất tình (hay ve vuốt thú đau thương?), bạn nên nhớ một điều: rồi tất cả cũng qua đi. Điều cần nhất là phải luôn luôn giữ gìn sức khỏe, và tránh những gì mà hậu quả sẽ làm bạn hối tiếc sau này.
Tôi mong rằng trong số các bạn đọc thư này hôm nay, rồi đây sẽ có người viết một bức thư như thế này cho một bạn trẻ khác, và nước Việt Nam – không, cả thế giới này – lúc ấy sẽ đẹp đẽ hơn, và bạn sẽ mãn nguyện về những đóng góp của bạn cho cuộc đời này, trong bất cứ lãnh vực nào mà bạn chọn lựa.
Cái nguy hiểm là chúng ta sẽ nãn chí, chua cay, cho là mình không thể làm gì được nữa... Dù hiện tại có vẻ ảm đạm như thế nào (và thực sự thì nó không ảm đạm như bạn tưởng!), khó khăn ra sao, chúng ta phải giữ niềm tin, và tích cực cùng nhau thực hiện niềm tin ấy, vì đó là bổn phận của chúng ta đối với chính mình...

Xin chúc bạn và gia đình một năm Kỷ Sửu đầy thành công và may mắn.

Trần Hữu Dũng
Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn
Xuân Kỷ Sửu (2009)